Author: Hồ Nguyễn

  • BẢN SẮC

    Khi mọi thứ đều có thể copy, một bản sắc chạm đến được tâm hồn là Chiếc khiên bất diệt của Captain America.

    1. Nghịch lý của sự dễ dàng

    Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên mà các ngành công nghiệp phụ trợ và hệ thống cung ứng toàn cầu phát triển vượt bậc. Như được nhắc đến trong cuốn hồi ký Steve Jobs viết bởi Walter Isaacson, những ý tưởng vượt thời gian của người đàn ông vĩ đại này đã tạo nên bước nhảy vọt của không chỉ công nghệ mà thậm chí ở 6 ngành công nghiệp khác nhau, trong đó có chuỗi cung ứng toàn cầu. Chính trong sự kết nối tuyệt hảo của thế giới phẳng, con người như được chắp cánh để nhanh chóng tổng hợp các nguồn lực cần thiết nhằm kiến tạo thứ mình mong muốn.

    Kết hợp cùng sức mạnh lan tỏa vô biên của mạng xã hội, rào cản gia nhập thị trường cho các thương hiệu nhỏ chưa bao giờ mỏng manh đến thế. Chính trong sự “thuận lợi” này, con người rơi vào một ma trận của lạm phát thương hiệu và dư thừa hàng hóa, nơigiá cả của sản phẩm được đưa về mức hấp dẫn không tưởng, khi người tiêu dùng được thoả sức lựa chọn đến mức mất phương hướng trước hằng hà sa số các thương hiệu, còn sự cạnh tranh trên thương trường trở nên khốc liệt hơn bao giờ hết.

    2. Sự thay đổi Cuộc chơi

    Nếu trước đây, thách thức lớn nhất của các thương hiệu mới, tạm bỏ qua vấn đề về huy động vốn, nằm ở việc tìm kiếm và tổng hợp các nguồn lực; từ việc làm sao tìm được các nguồn nguyên liệu tốt nhất, làm sao tìm được các máy móc thiết bị cần thiết, làm sao tìm được nơi thiết kế nên bộ packaging phản ánh đúng tinh thần mình theo đuổi v.v., thì nay sự phát triển của mạng xã hội và các kênh truyền thông mang đến những kết nối và đưa ra giải pháp vô cùng nhanh chóng. Từ đấy, độ khó của việc tạo thương hiệu được nâng lên một cấp độ mới, đòi hỏi một chiều sâu về tư duy và bản sắc. Nó không đơn thuần là gây được sự chú ý từ khách hàng; mà ở một tầm nhận thức cao hơn, nó phải thật sự thuyết phục, dưới nhiều góc độ nhìn nhận.

    Sự khác biệt này không thể chỉ là lớp vỏ bề nổi bởi vì các đối thủ có thể thực hiện chúng một cách vô cùng đơn giản; ngoài ra nhận thức của khách hàng về bản sắc của 1 thương hiệu đã trở nên phức tạp hơn trước rất nhiều. Ví dụ, nếu trước đây một quán cà phê chỉ cần một concept “hay và lạ” là đủ thu hút, thì nay mọi thứ phải được phát triển đồng bộ với tư duy cặn kẽ và nhất quán. Từ chất lượng của thức uống, từ thiết kế menu với những điểm nhấn khác biệt, từ phong cách phục vụ, đồng phục nhân viên, cho đến diện mạo của cửa hàng và thông điệp truyền thông, tất cả cùng nhau cấu thành bộ nhận diện thương hiệu tạo nên một sức nặng giữ chân khách hàng.

    3. Brand DNA: Khi khách hàng không chỉ mua “Vật chất”

    Trong thế giới phẳng, sự soi chiếu đến mỗi thương hiệu ngày càng gắt gao, chuẩn mực cho mọi sản phẩm được nâng lên một tầm vóc mới. Sự ra đời của vô số các Reviewers, KOC, KOL cung cấp cho người tiêu dùng góc nhìn đa chiều, đưa đến họ những thông tin, những sự so sánh mà trước đây có thể họ chưa từng nghĩ đến. Khách hàng ngày càng “khó tính”, họ không còn chỉ mua sản phẩm, họ cần cảm nhận được chiều sâu và linh hồn của thương hiệu. Mỗi sản phẩm không chỉ phục vụ nhu cầu tiêu dùng, chúng phải phản ánh được tinh thần và nội tâm mà khách hàng mong đợi – một trải nghiệm xuyên suốt từ tính năng cho đến cảm xúc, nơi bản sắc của mỗi cá nhân được toát ra thông qua sự lựa chọn về tiêu dùng của họ. Sẽ không còn sự tồn tại của những mảnh ghép lệch pha vì người mua không cần phải đánh đổi tính năng để lấy thiết kế, đánh đổi hình ảnh để lấy chất lượng v.v.

    Hãy nhìn vào thương hiệu nước hoa Born To Stand Out. Từ tên gọi và bộ nhận diện thương hiệu đến chất lượng sản phẩm thể hiện đầy đủ bản sắc của Nhà sáng lập. Những mùi hương cuốn hút được đặt trong thiết kế chai độc bản. Những tên gọi đầy cá tính như Drunk Lovers, Dirty Milk hay Free Coco mang đến sự kích thích đầy hứng thú cho khách hàng. Toàn bộ website được thiết kế tông đỏ đầy sexy và nổi bật. Con trỏ chuột thậm chí còn được đồ hoạ lại với hình “ngón tay giữa giơ lên” đầy khiêu khích, theo cùng đó những hình ảnh, những thước phim quảng bá phá cách gây bất ngờ đến mức choáng váng cho người xem. Tất cả tạo nên một tổng thể hình ảnh đột phá, được truyền tải một cách trọn vẹn và cá tính thông qua những chai nước hoa, nơi mùi hương vừa có chất thơm độc đáo, vừa có độ dày dặn phản ánh một chất lượng ấn tượng, một chiều sâu không thể bàn cãi của thương hiệu. Đó chính là cách họ tự xây dựng cho mình một vị thế riêng biệt trong thế giới “hỗn loạn” của các thương hiệu nước hoa.

    4. Di sản của những người tiên phong

    Nhìn lại tầm nhìn của các Founder vĩ đại như Steve Jobs, chúng ta thấy rõ sức mạnh của Brand DNA. Mọi sản phẩm Apple thời kỳ ông còn sống đều phản ánh một vẻ đẹp và triết lý tách biệt hoàn toàn với thế giới công nghệ đương thời.

    Đó là sự phản chiếu thế giới quan bên trong Jobs ra bên ngoài: từ quan niệm về cái đẹp, tiêu chuẩn về sản phẩm đến tinh thần phóng khoáng phá vỡ mọi rào cản. Với Jobs, các giới hạn, các tiêu chuẩn tồn tại hàng thập kỷ đều bị phá vỡ, để từ đó, thế giới đón nhận những chiếc macbook siêu mỏng, những chiếc iphone với màn hình cảm ứng đầu tiên, vượt ra khỏi trí tưởng tượng của không chỉ khách hàng mà còn của các hãng công nghệ khổng lồ khác.

    Sự đồng bộ và DNA của Jobs hiện diện ở mọi điểm chạm của cảm xúc: phần cứng trở nên mỏng và tinh tế, các cạnh được bo một góc hoàn hảo, phần mềm và hệ điều hành OS, iOS đảo ngược khái niệm mà Windows từng xây dựng, đưa người dùng đến những trải nghiệm tự nhiên và gần gũi. Jobs biến một sản phẩm công nghệ trở thành một phong cách tiêu dùng, một trào lưu của tự do và phong cách. Không chỉ sản phẩm, cách Jobs quảng bá và tạo nên những tương tác với khách hàng khiến giới marketing phải ngả mũ, việc ông đặt các bức tường bằng kính khổng lồ tại các cửa hàng của Apple là một thông điệp đầy cảm hứng, là một sự khẳng định của triết lý không gì là không thể mà ông theo đuổi . Chính sự toàn vẹn đó đã tạo nên một vị thế bền vững và bất khả xâm phạm cho Apple suốt nhiều thập kỷ.

    5. Lời kết

    Trong bối cảnh hiện tại, xây dựng Brand DNA không chỉ là tiêu chí cần thiết cho những kẻ tiên phong công nghệ như thời Steve Jobs, nó đã trở thành điều kiện sống còn đòi hỏi các Founders trong mọi lĩnh vực phải dành sự tôn trọng đặc biệt. Muốn có chỗ đứng trong thế giới của vô số các thương hiệu được ra đời mỗi ngày, bạn không chỉ cần tạo ra sản phẩm tốt hay một kế hoạch truyền thông rầm rộ thu hút sự chú ý; bạn phải tạo một dấu ấn sắc nét để lưu lại trên bản đồ. Khi mọi thứ đều có thể copy, một bản sắc chạm đến được tâm hồn là Chiếc khiên bất diệt của Captain America.

  • LẮNG NGHE TRONG NÁO NHIỆT (phần 1)

    Trong đầu tư, có một chân lý sống còn, bất biến, có giá trị xuyên thời gian, có tính quy chiếu đến tất cả các bong bóng tài sản đã từng hình thành và sẽ được hình thành; nhưng thường bị lãng quên, đó chính là: khi tất cả đang đều đang cuồng loạn trong men say chiến thắng, hãy tháo chạy thật nhanh.


    Bong bóng tài sản

    Hiểu một cách đơn giản, bong bóng hình thành khi một loại tài sản đang được định giá vượt xa giá trị thực của nó, tức một giá trị hợp lý để tạo nên trạng thái thuận mua vừa bán. Lấy một ví dụ dễ hình dung: trong một cơn thèm đồ ngọt, những đứa trẻ có thể đổi món đồ chơi trị giá 20k cho 1 viên kẹo giá chỉ 5k, cứ thế viên kẹo được trao đổi cho đến khi đạt mức 1 chiếc đồng hồ thông minh và không đứa trẻ nào muốn đổi kẹo nữa. Đó chính là 1 bong bóng. Quay về với các tài sản phức tạp trong thế giới tài chính, các bong bóng được sinh ra khi hội đủ các tác nhân sau đây:

    (1) sự xuất hiện của các tài sản như cổ phiếu, bất động sản, bitcoin, hay thậm chí những thứ có giá trị thực cực thấp như các cây lan đột biến gen, tóm lại là tất cả những thứ mà có thể gieo vào tâm lý con người niềm tin về lợi nhuận.

    (2) sự ảnh hưởng của các tác nhân xây dựng niềm tin về giá trị như: những thông tin về sự khởi sắc của doanh nghiệp, những triển vọng đột phá cho một ngành nghề hay những chính sách hoặc thay đổi vĩ mô tác động mạnh mẽ đến giá trị của một loại tài sản.

    (3) sự tuyên truyền “thổi giá” khơi dậy và thổi bùng lòng tham cũng như cảm giác FOMO của con người.

    Cơ chế phân phối ở đỉnh

    Đâu là đỉnh giá trị của một tài sản, hay ở góc độ bong bóng, khi nào nó nổ tung là câu hỏi nhiều đối tượng tham gia thị trường không ngừng tìm đáp án hoàn hảo nhất. Đặt trong bối cảnh toàn cầu hoá và sự liên thông về kinh tế hết sức sâu rộng, các biến số tác động đến giá trị và bong bóng tài sản hợp thành một mạng lưới liên kết chằng chịt và biến đổi không ngừng.

    Chúng ta có thể dựa trên phân tích định tính để đoán định sự hình thành của bong bóng, nhưng không thể kết luận chuẩn xác khi nào nó nổ tung. Sự thiếu hụt về thông tin, sự thiếu kiến thức và các công cụ cần thiết để xử lý thông tin là lỗ hổng không thể lấp đầy để đưa ra 1 một đáp án chính xác. Điều này đặc biệt đúng với các đối tượng là nhà đầu tư cá nhân hoặc những tổ chức nhỏ, thuật ngữ tiếng Anh gọi là retail investors (tạm gọi ở đây là cá thể nhỏ).

    Gạt bỏ hết những chỉ số phức tạp để quay về bản chất căn bản của thương mại, chỉ báo rõ nhất cho sự vỡ tung của bong bóng chính là khi các cá thể nhỏ, đặc biệt là những cá thể không có bất cứ hiểu biết nào về đầu tư và tài chính bị hạ gục bởi lòng tham. Tại thời điểm này, nguồn cầu của thị trường đạt đến đỉnh của nó, cùng với đó là sự chuyển giao của tài sản từ tay những nhà tạo lập thị trường cho các cá thể nhỏ.

    Khi không còn lực đỡ nào từ những nhà tạo lập, hay từ nguồn cầu còn lại trên thị trường, sụt giảm không phanh là hệ quả tất yếu. Nhất là trong trường hợp tài sản, tự thân nó không có giá trị thực, như lan đột biến hay rất nhiều đồng tiền ảo vô giá trị hay các công ty khai khoáng, nơi thông tin về việc dò mỏ thành công là cú hích được các nhà tạo lập xoáy vào để đẩy giá. Hậu quả của phân phối đỉnh đối với những người đến sau là thảm khốc, đặc biệt đối với những người dùng đòn bẩy tài chính để mua vào.

    Hình thái phân phối đỉnh

    Khi một tài sản đã ở đỉnh của nó, một đợt giảm giá nhanh và mạnh sẽ tiếp diễn ngay sau. Về logic, điều này là một diễn biến tất yếu khi các đối tượng tạo lập thị trường với lợi thế về kiểm soát cục diện quyết định thoát ra. Diễn biến tiếp sau sẽ luôn rơi vào 1 trong 2 trường hợp:

    1. Trường hợp 1:  Giá sẽ giảm không phanh cho đến khi về đến mức “giấy lộn” mà không có thêm đợt điều chỉnh nào. Trường hợp này thường xảy ra khi số lượng đơn vị tài sản được giao dịch không quá nhiều và đã được phân phối phần lớn trong giai đoạn lập đỉnh, ví dụ là các cổ phiếu penny.
    2. Trường hợp 2: Là 1 diễn tiến gồm các giai đoạn: (1) Giá sẽ giảm nhanh và mạnh, ngay sau là (2) 1 đợt mua vào với khối lượng lớn và cuối cùng (3) đợt bán tống tháo với mọi giá. Diễn biến này thường xảy ra với các tài sản có số lượng đơn vị giao dịch lớn khiến đối tượng tạo lập cần thời gian cũng như cơ hội phân phối tài sản.

    Trường hợp thứ 2 phổ biến hơn và cũng để lại hậu quả lớn hơn rất nhiều cho các cá thể nhỏ, đặc biệt là những cá thể đến sau. Đơn giản vì với lòng tin về sự tăng giá, cùng các lệch lạc về khái niệm đầu tư theo giá trị khiến họ xem những đợt giảm giá mạnh là cơ hội để mua vào và bắt đáy. Sự nhầm lẫn chết người giữa phân phối đỉnh và điều chỉnh giá. Sự sai lầm nghiêm trọng khi tin rằng các công thức định giá, các chỉ số tài chính trong sách giáo khoa có sức mạnh lớn hơn sự cuồng loạn của thị trường.

    Tỉnh táo để tồn tại

    Hãy luôn nhớ, khi khối lượng giao dịch của tài sản và giá trị từng giao dịch cùng tăng đột ngột là lúc viên đạn chuẩn bị rời nòng. Các đối tượng tạo lập thị trường đang tập kết cho trận chiến sau cuối. Đột biến về giao dịch vượt hẳn mức trung bình trước đó, vượt xa các lần điều chỉnh trước, có thể 3 lần, có thể 5 lần, thậm chí đến 10 lần.

    Thay vì tiếc rẻ một vài phần trăm lợi nhuận hay cố chứng minh mình đúng tuyệt đối trong các dự đoán về thị trường với các công cụ kỹ thuật, các bảng định giá dựa trên dòng tiền (Discounted Cash Flow Model), hãy đặt lý trí trên những nền tảng căn bản để tồn tại: không có một phương pháp định lượng nào có thể tiên đoán chính xác về thời khắc bong bóng nổ tung hay giá của đỉnh, chỉ có 1 lý lẽ luôn đúng: khi tất cả cầu đã được chuyển hoá thành cung thì sự sụp đổ là hệ quả tất yếu.

    Tách lòng tham khỏi sự cuồng loạn, tách bản ngã khỏi quyết định sau cùng là bản năng sinh tồn cho bất cứ ai muốn bước chân vào lĩnh vực đầu tư.

  • BẪY ẢO TƯỞNG “KÉP”

    Không phải sự thúc đẩy mơ hồ, không phải sự lạc quan vô căn cứ, niềm tin trong các founders được củng cố bằng bản năng sinh tồn và trực giác của những người giàu khát vọng. Trong những giai đoạn mà dữ liệu chưa đầy đủ, nguồn lực còn hạn chế, và rủi ro hiện diện ở hầu hết mọi bước đi, niềm tin là động lực thúc đẩy họ tiến lên phía trước. Cuộc chiến giữa niềm tin và nỗi sợ diễn ra liên tục và dữ dội trong những con người mà định mệnh chọn cho họ một con đường chông gai và gian khó. Ở những ai dấn thân vào thương trường, niềm tin là bên dành phần thắng nhưng cũng chính từ thời điểm đó, một vấn đề tinh vi bắt đầu hình thành: sự mất cân bằng giữa niềm tin và năng lực nội tại, giữa niềm tin và các điều kiện khách quan – chủ quan có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thành công của startup.


    Cơ chế phòng thủ tâm lý và con dao hai lưỡi của niềm tin

    Để vượt qua nỗi sợ, não bộ con người, một cách tự động, kích hoạt những cơ chế phòng thủ như một phản xạ tâm lý tự nhiên. Với founders, cơ chế này thường biểu hiện bằng việc khuếch đại niềm tin – như một cách để tự trấn an bản thân rằng con đường mình lựa chọn là đúng, rằng những rủi ro có thể kiểm soát, và những khó khăn rồi sẽ được giải quyết.

    Ở mức độ vừa phải, điều này giúp founders duy trì động lực và tiếp tục tiến lên. Nhưng khi niềm tin bị khuếch đại vượt quá các logic của lý trí, nó trở thành một con dao hai lưỡi. Thay vì giúp họ nhìn rõ thực tế, nó bóp méo cách nhìn, khiến founders rơi vào những ảo tưởng có hệ thống, thứ mà người ta thường gọi chung là “ảo tưởng sức mạnh”.


    Dạng ảo tưởng thứ nhất: Ảo tưởng về sức mạnh của ý tưởng và sự hấp dẫn của sản phẩm

    Dạng phổ biến nhất là niềm tin phóng đại vào sự độc đáo của ý tưởng kinh doanh, hoặc vào mức độ hấp dẫn của sản phẩm – dịch vụ mình tạo ra.

    Founders gò nén góc nhìn của mình theo cùng một mô típ:

    • Quá tin vào phản hồi tích cực từ bạn bè – những người thường ngại làm mình mất lòng.
    • Chọn lọc thông tin theo hướng củng cố niềm tin sẵn có, trong khi xem nhẹ hoặc gạt bỏ các tín hiệu cảnh báo.
    • Khó tiếp nhận những lời góp ý thẳng thắn mang tính phản biện, vì chúng trực tiếp đe dọa hệ thống phòng vệ được xây bởi niềm tin

    Tất cả tạo nên một góc nhìn méo mó và phiến diện: những gì thuộc về mình được tự động nâng lên, còn những rủi ro, tiềm ẩn hoặc hạn chế cốt lõi thì được hạ xuống.

    Ví dụ cho dạng ảo tưởng này là một startup về chuột máy tính làm bằng gỗ thay thế cho nhựa ABS và PBT mà tôi biết nhiều năm về trước. Founder tin tưởng tuyệt đối vào khả năng thành công của dự án với nhận định rằng sự thay thế của một chất liệu mang đến nét độc đáo và riêng biệt cùng khả năng thấm hút mồ hôi sẽ tạo nên 1 lợi thế cạnh tranh lớn trước các loại chuột thông thường, đặc biệt ở thị phần ngách là sản phẩm quà tặng được các công ty mua tặng cho nhân viên của mình. Tuy nhiên, chất liệu chỉ là một mảnh ghép trong bức tranh tổng thể, khi định nghĩa 1 con chuột tốt bao gồm nhiều yếu tố như công thái học, cảm biến sử dụng, chỉ số độ nhạy và trọng lượng. Các yếu tố quan trọng này này bị bỏ quên, founder mua các linh kiện trung bình và lắp ráp vào con chuột gỗ của mình, khiến nó không thể cạnh tranh về chất lượng với các đối thủ trong tầm giá. Khi đó, chất liệu gỗ chỉ là sự khác biệt chứ không phải là lợi thế cạnh tranh, và nhất là, chất liệu này khiến việc tạo nên những chú chuột có công thái học tốt và trọng lượng nhẹ trở nên khó khăn hơn rất nhiều so với nhựa ABS được các hãng sãn xuất chuột sử dụng.


    Dạng ảo tưởng thứ hai: Ảo tưởng về khả năng hiện thực hóa ý tưởng

    Dạng thứ hai tinh vi hơn và thường nguy hiểm hơn dạng thứ nhất: ảo tưởng về năng lực triển khai dự án.

    Founders tự huyễn hoặc bản thân về:

    • Sự hiểu biết về lĩnh vực mình tham gia
    • Khả năng quản trị và điều phối công việc
    • Lượng thời gian, công sức, thậm chí sức khỏe có thể dành cho startup
    • Khả năng thuyết phục người khác trong việc huy động vốn hoặc nguồn lực
    • Khả năng “xoay xở” trước những điều kiện bất lợi của môi trường kinh doanh

    Ở chiều ngược lại, họ có thể đánh giá thấp mức độ phức tạp của việc vận hành, hoặc tin rằng những giải pháp đối phó với khó khăn – thách thức sẽ đến sớm trong tương lai.

    Với trường hợp này, một founder với sản phẩm về bánh mì phá lấu được đưa vào trong không gian hàng quán sạch sẽ, mát mẻ và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm là một ý tưởng không tệ về mặt định hướng. Tuy nhiên, sự thiếu hiểu biết về lĩnh vực F&B khiến founder này chỉ tập trung vào nghiên cứu tạo nên một món ăn có khẩu vị ngon và vệ sinh và không lường trước được hàng loạt các vấn đề về cơ cấu chi phí trên doanh thu, kỹ năng quản trị nhà hàng để tránh thất thoát hao hụt nguyên vật liệu, nguồn vốn cần đủ để duy trì đến điểm hoà vốn ,v.v. Một ví dụ về sự ảo tưởng này là việc founder tính mô phỏng doanh thu dựa trên giả định về trọng lượng nguyên liệu thô chưa chế biến, trong khi nguyên liệu sau khi chế biến có trọng lượng giảm đến  50% sau quá trình hầm.


    Ảo tưởng kép – khi hai sai lệch nuôi dưỡng lẫn nhau

    Hai dạng ảo tưởng này hiếm khi tồn tại độc lập mà chúng hình thành và phát triển đồng thời và thúc đẩy nhau.

    Niềm tin phóng đại vào tiềm năng của sản phẩm – dịch vụ khiến founders tin rằng mình đủ thời gian, năng lực và tiền bạc để triển khai dự án hoặc nếu có sai sót trong quá trình vận hành thì sự cần thiết và độ hấp dẫn của sản phẩm – dịch vụ mình tạo ra sẽ mang đến cho mình khoảng thời gian đủ để khắc phục. Ngược lại, niềm tin quá mức vào năng lực của bản thân, hoặc thậm chí của các co-founders cùng thực hiện dự án khiến những vấn đề của startup “bớt nghiêm trọng”, vì luôn tồn tại giả định vào năng lực xoay chuyển tình thế của bản thân và đội nhóm.

    Hai ảo tưởng này củng cố lẫn nhau, tạo thành một bẫy ảo tưởng kép kiên cố và nguy hiểm, một trạng thái đủ yên tĩnh để không dễ bị phát hiện, nhưng đủ mạnh để dẫn dắt founders đi qua hàng loạt quyết định sai lầm, tích lũy theo thời gian, cho đến khi cái giá phải trả trở nên quá lớn.


    Để kết lại

    Gần như không có founders nào hoàn toàn thoát khỏi sức ảnh hưởng khỏi cơ chế này vì nó được sinh ra từ bản năng tự vệ và trực giác được trui rèn qua nhiều năm tháng sinh tồn.

    Vấn đề không nằm ở việc loại bỏ niềm tin – bởi không có niềm tin thì sẽ không có hành động. Vấn đề nằm ở “khoảng trống dự phòng” trong bộ não của những người sáng lập, một vùng đệm phòng vệ cần thiết để tiếp nhận và xử lý những thông tin trái chiều một cách khách quan là lý trí nhất, để tạm dừng và tự kiểm tra lại các giả định nền tảng một cách thấu đáo hay đơn giản là một không gian để giữ cho bản thân ở trạng thái cân bằng và tĩnh lặng trước những quyết định then chốt.

    Bẫy ảo tưởng kép sẽ luôn hiện diện, bởi nó được sinh ra từ niềm tin – một nguồn sinh lực vừa nuôi dưỡng, vừa đồng thời hủy diệt một cách không khoan nhượng bất cứ doanh nhân nào;
    trừ khi họ xây cho nó một căn phòng kính: nơi niềm tin vẫn tiếp nhận được ánh sáng của hy vọng, nhưng không bao giờ được phép bước qua những lằn ranh của thực tại khốc liệt và tàn nhẫn.