Category: BIAS

  • BẪY ẢO TƯỞNG “KÉP”

    Không phải sự thúc đẩy mơ hồ, không phải sự lạc quan vô căn cứ, niềm tin trong các founders được củng cố bằng bản năng sinh tồn và trực giác của những người giàu khát vọng. Trong những giai đoạn mà dữ liệu chưa đầy đủ, nguồn lực còn hạn chế, và rủi ro hiện diện ở hầu hết mọi bước đi, niềm tin là động lực thúc đẩy họ tiến lên phía trước. Cuộc chiến giữa niềm tin và nỗi sợ diễn ra liên tục và dữ dội trong những con người mà định mệnh chọn cho họ một con đường chông gai và gian khó. Ở những ai dấn thân vào thương trường, niềm tin là bên dành phần thắng nhưng cũng chính từ thời điểm đó, một vấn đề tinh vi bắt đầu hình thành: sự mất cân bằng giữa niềm tin và năng lực nội tại, giữa niềm tin và các điều kiện khách quan – chủ quan có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thành công của startup.


    Cơ chế phòng thủ tâm lý và con dao hai lưỡi của niềm tin

    Để vượt qua nỗi sợ, não bộ con người, một cách tự động, kích hoạt những cơ chế phòng thủ như một phản xạ tâm lý tự nhiên. Với founders, cơ chế này thường biểu hiện bằng việc khuếch đại niềm tin – như một cách để tự trấn an bản thân rằng con đường mình lựa chọn là đúng, rằng những rủi ro có thể kiểm soát, và những khó khăn rồi sẽ được giải quyết.

    Ở mức độ vừa phải, điều này giúp founders duy trì động lực và tiếp tục tiến lên. Nhưng khi niềm tin bị khuếch đại vượt quá các logic của lý trí, nó trở thành một con dao hai lưỡi. Thay vì giúp họ nhìn rõ thực tế, nó bóp méo cách nhìn, khiến founders rơi vào những ảo tưởng có hệ thống, thứ mà người ta thường gọi chung là “ảo tưởng sức mạnh”.


    Dạng ảo tưởng thứ nhất: Ảo tưởng về sức mạnh của ý tưởng và sự hấp dẫn của sản phẩm

    Dạng phổ biến nhất là niềm tin phóng đại vào sự độc đáo của ý tưởng kinh doanh, hoặc vào mức độ hấp dẫn của sản phẩm – dịch vụ mình tạo ra.

    Founders gò nén góc nhìn của mình theo cùng một mô típ:

    • Quá tin vào phản hồi tích cực từ bạn bè – những người thường ngại làm mình mất lòng.
    • Chọn lọc thông tin theo hướng củng cố niềm tin sẵn có, trong khi xem nhẹ hoặc gạt bỏ các tín hiệu cảnh báo.
    • Khó tiếp nhận những lời góp ý thẳng thắn mang tính phản biện, vì chúng trực tiếp đe dọa hệ thống phòng vệ được xây bởi niềm tin

    Tất cả tạo nên một góc nhìn méo mó và phiến diện: những gì thuộc về mình được tự động nâng lên, còn những rủi ro, tiềm ẩn hoặc hạn chế cốt lõi thì được hạ xuống.

    Ví dụ cho dạng ảo tưởng này là một startup về chuột máy tính làm bằng gỗ thay thế cho nhựa ABS và PBT mà tôi biết nhiều năm về trước. Founder tin tưởng tuyệt đối vào khả năng thành công của dự án với nhận định rằng sự thay thế của một chất liệu mang đến nét độc đáo và riêng biệt cùng khả năng thấm hút mồ hôi sẽ tạo nên 1 lợi thế cạnh tranh lớn trước các loại chuột thông thường, đặc biệt ở thị phần ngách là sản phẩm quà tặng được các công ty mua tặng cho nhân viên của mình. Tuy nhiên, chất liệu chỉ là một mảnh ghép trong bức tranh tổng thể, khi định nghĩa 1 con chuột tốt bao gồm nhiều yếu tố như công thái học, cảm biến sử dụng, chỉ số độ nhạy và trọng lượng. Các yếu tố quan trọng này này bị bỏ quên, founder mua các linh kiện trung bình và lắp ráp vào con chuột gỗ của mình, khiến nó không thể cạnh tranh về chất lượng với các đối thủ trong tầm giá. Khi đó, chất liệu gỗ chỉ là sự khác biệt chứ không phải là lợi thế cạnh tranh, và nhất là, chất liệu này khiến việc tạo nên những chú chuột có công thái học tốt và trọng lượng nhẹ trở nên khó khăn hơn rất nhiều so với nhựa ABS được các hãng sãn xuất chuột sử dụng.


    Dạng ảo tưởng thứ hai: Ảo tưởng về khả năng hiện thực hóa ý tưởng

    Dạng thứ hai tinh vi hơn và thường nguy hiểm hơn dạng thứ nhất: ảo tưởng về năng lực triển khai dự án.

    Founders tự huyễn hoặc bản thân về:

    • Sự hiểu biết về lĩnh vực mình tham gia
    • Khả năng quản trị và điều phối công việc
    • Lượng thời gian, công sức, thậm chí sức khỏe có thể dành cho startup
    • Khả năng thuyết phục người khác trong việc huy động vốn hoặc nguồn lực
    • Khả năng “xoay xở” trước những điều kiện bất lợi của môi trường kinh doanh

    Ở chiều ngược lại, họ có thể đánh giá thấp mức độ phức tạp của việc vận hành, hoặc tin rằng những giải pháp đối phó với khó khăn – thách thức sẽ đến sớm trong tương lai.

    Với trường hợp này, một founder với sản phẩm về bánh mì phá lấu được đưa vào trong không gian hàng quán sạch sẽ, mát mẻ và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm là một ý tưởng không tệ về mặt định hướng. Tuy nhiên, sự thiếu hiểu biết về lĩnh vực F&B khiến founder này chỉ tập trung vào nghiên cứu tạo nên một món ăn có khẩu vị ngon và vệ sinh và không lường trước được hàng loạt các vấn đề về cơ cấu chi phí trên doanh thu, kỹ năng quản trị nhà hàng để tránh thất thoát hao hụt nguyên vật liệu, nguồn vốn cần đủ để duy trì đến điểm hoà vốn ,v.v. Một ví dụ về sự ảo tưởng này là việc founder tính mô phỏng doanh thu dựa trên giả định về trọng lượng nguyên liệu thô chưa chế biến, trong khi nguyên liệu sau khi chế biến có trọng lượng giảm đến  50% sau quá trình hầm.


    Ảo tưởng kép – khi hai sai lệch nuôi dưỡng lẫn nhau

    Hai dạng ảo tưởng này hiếm khi tồn tại độc lập mà chúng hình thành và phát triển đồng thời và thúc đẩy nhau.

    Niềm tin phóng đại vào tiềm năng của sản phẩm – dịch vụ khiến founders tin rằng mình đủ thời gian, năng lực và tiền bạc để triển khai dự án hoặc nếu có sai sót trong quá trình vận hành thì sự cần thiết và độ hấp dẫn của sản phẩm – dịch vụ mình tạo ra sẽ mang đến cho mình khoảng thời gian đủ để khắc phục. Ngược lại, niềm tin quá mức vào năng lực của bản thân, hoặc thậm chí của các co-founders cùng thực hiện dự án khiến những vấn đề của startup “bớt nghiêm trọng”, vì luôn tồn tại giả định vào năng lực xoay chuyển tình thế của bản thân và đội nhóm.

    Hai ảo tưởng này củng cố lẫn nhau, tạo thành một bẫy ảo tưởng kép kiên cố và nguy hiểm, một trạng thái đủ yên tĩnh để không dễ bị phát hiện, nhưng đủ mạnh để dẫn dắt founders đi qua hàng loạt quyết định sai lầm, tích lũy theo thời gian, cho đến khi cái giá phải trả trở nên quá lớn.


    Để kết lại

    Gần như không có founders nào hoàn toàn thoát khỏi sức ảnh hưởng khỏi cơ chế này vì nó được sinh ra từ bản năng tự vệ và trực giác được trui rèn qua nhiều năm tháng sinh tồn.

    Vấn đề không nằm ở việc loại bỏ niềm tin – bởi không có niềm tin thì sẽ không có hành động. Vấn đề nằm ở “khoảng trống dự phòng” trong bộ não của những người sáng lập, một vùng đệm phòng vệ cần thiết để tiếp nhận và xử lý những thông tin trái chiều một cách khách quan là lý trí nhất, để tạm dừng và tự kiểm tra lại các giả định nền tảng một cách thấu đáo hay đơn giản là một không gian để giữ cho bản thân ở trạng thái cân bằng và tĩnh lặng trước những quyết định then chốt.

    Bẫy ảo tưởng kép sẽ luôn hiện diện, bởi nó được sinh ra từ niềm tin – một nguồn sinh lực vừa nuôi dưỡng, vừa đồng thời hủy diệt một cách không khoan nhượng bất cứ doanh nhân nào;
    trừ khi họ xây cho nó một căn phòng kính: nơi niềm tin vẫn tiếp nhận được ánh sáng của hy vọng, nhưng không bao giờ được phép bước qua những lằn ranh của thực tại khốc liệt và tàn nhẫn.